Tìm hiểu pháp luật về Ombudsman của Iceland 01/10/2018

Iceland là một quốc gia ở châu âu có luật riêng điều chỉnh về thiết chế Ombudsman. Năm 1987, Nghị viện Iceland (the Althing) đã ban hành Luật số 13 ngày 20 tháng 3 năm 1987 về Trưởng Ombudsman (Act No. 13 of 20 March 1987 on the Althing Ombudsman). ...

Luật về Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước của Vương quốc Thái Lan 17/09/2018

Vương quốc Thái Lan là một quốc gia mà phật giáo được coi là quốc đạo. Là một trong những quốc gia Asean có Luật riêng điều chỉnh vấn đề trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (TNBTCNN). Ngày 27 tháng 9 năm 2539, vào năm thứ 51 của Vương triều, Nhà vua Thái Lan - BHUMIBOL ADULYADEJ - đã ban hành Luật về Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của công chức (sau đây gọi là Luật về TNBTTHNHĐ của Thái Lan). Năm 2539 được xác định là năm 1996 bởi tại Thái Lan, ngoài việc sử dụng lịch của phương tây thì người ta còn sử dụng lịch của phật giáo, theo đó, lịch của phật giáo sớm hơn lịch của Phương tây là 543 năm. Luật này ban hành năm 1996, cộng thêm 543 năm thì tính thành lịch của phật giáo là năm 2539.

TÌM HIỂU LUẬT VỀ OMBUDSMAN CỦA CROATIA 27/07/2018

I. Một số vấn đề chung Croatia là một trong những quốc gia Châu âu tách ra từ Liên bang Nam tư cũ vào năm 1991. Croatia theo chính thể Cộng hòa Nghị viện và có Luật về Ombudsman rất sớm (ngay từ năm 1992) và đến nay Luật về Ombudsman mới nhất của Croatia là Luật về Ombudsman năm 2012. Luật về Ombudsman của Croatia gồm có … Chương và 38 Điều, cụ thể: Chương I – Những quy định chung, gồm 3 Điều (từ Điều 1 đến Điều 3), Chương II – Nguyên tắc, gồm 6 Điều (từ Điều 4 đến Điều 9), Chương III – Bầu Trưởng Ombudsman và cấp phó, gồm 5 Điều (từ Điều 10 đến Điều 14), Chương IV – Thẩm quyền và trách nhiệm của Trưởng Ombudsman, gồm 5 Điều (từ Điều 15 đến Điều 19), Chương V – Thủ tục tiến hành tại Trưởng Ombudsman, gồm 9 Điều (từ Điều 20 đến Điều 18), Chương VI – Văn phòng Trưởng Ombudsman, gồm 2 Điều (Điều 29 và Điều 30), Chương VII – Hội đồng nhân quyền trực thuộc Trưởng Ombudsman có 01 Điều (Điều 31), Chương VIII – Hợp tác với Trưởng Ombudsman khác trong thúc đẩy và bảo vệ quyền con người, gồm 2 Điều (Điều 32 và Điều 33) và Chương IX – Điều khoản chuyển tiếp và điều khoản cuối cùng, gồm 5 Điều (từ Điều 34 đến Điều 38).

Một số kiến nghị Quy chế phối hợp thực hiện công tác bồi thường nhà nước giữa các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Tư pháp 04/07/2018

Ngày 18/6/2009, tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khoá XII đã thông qua Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (TNBTCNN) 2009 và Luật này có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2010. Sau hơn 04 năm tổ chức thực hiện, việc phối hợp thực hiện công tác bồi thường nhà nước (BTNN) giữa các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Tư pháp đã phát sinh một số hạn chế, bất cập làm ảnh hưởng đáng kể tới hiệu quả phối hợp thực hiện công tác BTNN về hướng dẫn nghiệp vụ công tác BTNN, kiểm tra công tác BTNN, xử lý thông tin báo chí về BTNN… Để khắc phục những hạn chế, bất cập đó, ngày 08/01/2014, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ban hành Quyết định số 96/QĐ-BTP về việc ban hành Quy chế phối hợp thực hiện công tác BTNN giữa các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Tư pháp (Quy chế số 96). Quy chế này điều chỉnh toàn diện quan hệ phối hợp thực hiện công tác BTNN giữa Cục Bồi thường nhà nước với các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Tư pháp không chỉ đối với hoạt động GQBT, xem xét TNHT mà cả đối với hoạt động quản lý nhà nước về công tác BTNN (như kiểm tra công tác BTNN) cũng như các hoạt động khác có liên quan đến TNBTCNN (như xử lý thông tin báo chí…). Việc ban hành Quy chế đã góp phần đáng kể vào việc hoàn thành các nhiệm vụ công tác BTNN của Bộ Tư pháp theo quy định của Luật TNBTCNN 2009. Tuy nhiên, thực tiễn phối hợp thực hiện công tác BTNN theo Quyết định số 96/QĐ-BTP vẫn chưa đạt được hiệu quả như mong muốn.

Sớm tập huấn chuyên sâu nghiệp vụ giải quyết bồi thường để từng bước đưa Luật TNBTCNN đi vào cuộc sống 03/07/2018

Ngày 18/6/2009, tại Kỳ họp thứ 05, Quốc hội khoá XII đã thông qua Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (sau đây gọi là Luật TNBTCNN), có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2010. Đây là lần đầu tiên trách nhiệm bồi thường của Nhà nước được quy định trong một đạo luật. Luật TNBTCNN năm 2009 đã thể chế hóa các chủ trương, quan điểm của Đảng được đề ra tại Nghị quyết của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X Đảng Cộng sản Việt Nam,cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 1992 cũng như phù hợp, đồng bộ với các đạo luật cơ bản vào thời điểm đó như Bộ luật dân sự năm 2005, Bộ luật hình sự năm 1999, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, Luật khiếu nại, tố cáo năm 1998, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1996... Sau hơn 06 năm thi hành, Luật TNBTCNN năm 2009 đã thực sự trở thành công cụ pháp lý quan trọng để cá nhân, tổ chức bảo đảm được quyền, lợi ích hợp pháp của mình, phòng chống các hành vi vi phạm pháp luật, góp phần nâng cao ý thức trách nhiệm trong thực thi công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức nói riêng cũng như chất lượng hoạt động của bộ máy nhà nước nói chung. Kết quả thi hành Luật cho thấy, từ ngày 01/01/2010 đến ngày 31/12/2015, các cơ quan có trách nhiệm bồi thường đã thụ lý, giải quyết 258 vụ việc yêu cầu bồi thường; trong đó, đã giải quyết xong 204 vụ việc (đạt tỷ lệ 79%), với tổng số tiền Nhà nước phải bồi thường là 111 tỷ 149 triệu 416 nghìn đồng. Thực tiễn thi hành Luật TNBTCNN năm 2009 cho thấy, Luật đã đi vào cuộc sống và cơ bản đã đạt được các mục tiêu đề ra, hoàn thành được vai trò, sứ mệnh của mình trong giai đoạn vừa qua.

Một số kỹ năng thực hiện hoạt động theo dõi công tác bồi thường nhà nước 29/06/2018

Trong quản lý nhà nước nói chung cũng như quản lý nhà nước (QLNN) về công tác bồi thường nhà nước nói riêng, một trong những yêu cầu quan trọng là phải nắm bắt được tình hình thực hiện hoạt động đó. Để đáp ứng yêu cầu này, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (TNBTCNN) 2017 (trước đây là Luật TNBTCNN 2009 và văn bản hướng dẫn thi hành) đã quy định theo dõi công tác bồi thường nhà nước (BTNN) là một trong những nội dung QLNN về công tác BTNN. Trong bài viết này, tác giả giới thiệu một số vấn đề về theo dõi công tác BTNN nói chung và một số kỹ năng thực hiện theo dõi công tác BTNN nói riêng.

Một số vấn đề cần lưu ý về kỹ năng hướng dẫn nghiệp vụ công tác bồi thường nhà nước 29/06/2018

Nếu như Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2009 (sau đây viết tắt là Luật TNBTCNN 2009) quy định Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước (sau đây viết tắt là QLNN) về công tác bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính và thi hành án và Chính phủ phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao (sau đây viết tắt là TANDTC), Viện kiểm sát nhân dân tối cao (sau đây viết tắt là VKSNDTC) quản lý công tác bồi thường trong hoạt động tố tụng thì Luật TNBTCNN 2017 giao Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước (sau đây viết tắt là QLNN) về công tác bồi thường nhà nước (sau đây viết tắt là BTNN) trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án trên phạm vi cả nước và Bộ Tư pháp là cơ quan đầu mối giúp Chính phủ thực hiện nhiệm vụ này . TANDTC, VKSNDTC trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình phối hợp với Chính phủ thực hiện các nội dung QLNN về công tác BTNN . Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tư pháp thực hiện các nội dung QLNN về công tác BTNN . Như vậy, có thể thấy, nội dung QLNN về công tác BTNN của Luật TNBTCNN 2009 đã được sửa đổi, bổ sung trong Luật TNBTCNN 2017. Một trong các nội dung QLNN về công tác BTNN là hướng dẫn nghiệp vụ công tác BTNN. Trong bài viết này, tác giả xin giới thiệu về một số lưu ý về kỹ năng hướng dẫn nghiệp vụ công tác BTNN.

Hoàn thiện cơ chế bảo đảm kinh phí thực hiện trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đáp ứng yêu cầu triển khai thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 28/06/2018

I. Cơ chế bảo đảm kinh phí thực hiện TNBTCNN theo quy định của Luật TNBTCNN năm 2009 và Luật TNBTCNN năm 2017 I.1. Cơ chế bảo đảm đảm kinh phí thực hiện TNBTCNN theo Luật TNBTCNN năm 2009 Ngoài Luật TNBTCNN năm 2009, cơ chế bảo đảm kinh phí thực hiện TNBTCNN còn được quy định và hướng dẫn tại Nghị định 16/2010/NĐ-CP ngày 03/3/2010 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật TNBTCNN và Thông tư liên tịch 71/2012/TTLT-BTC-BTP ngày 09/5/2012 của Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính quy định việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí thực hiện trách nhiệm bồi thường của nhà nước (TTLT số 71), cụ thể:

TÌM HIỂU LUẬT VỀ OMBUDSMAN CỦA VƯƠNG QUỐC ĐAN MẠCH 22/06/2018

I. Một số vấn đề chung Đan Mạch là quốc gia Châu âu theo chế độ quân chủ lập hiến và là một trong các quốc gia Châu âu có luật riêng điều chỉnh thiết chế Ombudsman. Năm 1996, Nghị viện Đan Mạch đã ban hành Luật về Ombudsman. Luật về Hội đồng Ombudsman của Đan Mạch đã được sửa đổi 04 lần vào năm 2005 (Luật số 556 ngày 24 tháng 6 năm 2005), 2009 (Luật số 502 ngày 12 tháng 6 năm 2009), 2012 (Luật số 568 ngày 18 tháng 6 năm 2012) và 2013 (Luật số 349 ngày 22 tháng 3 năm 2013). Luật này có 9 Chương và 34 Điều, bao gồm: Chương I: Bầu cử, miễn nhiệm, bãi nhiệm (từ Điều 1 đến Điều 6); Chương II: Thẩm quyền của Trưởng Ombudsman (từ Điều 7 đến Điều 9); Chương III: Mối quan hệ với Nghị viên (từ Điều 10 đến Điều 12); Chương IV: Đưa ra khiếu nại (từ Điều 12 đến Điều 16); Chương V: Chủ động điều tra, thanh tra (Điều 17 và 18); Chương VI: Điều tra vụ việc (Điều 19 và 20); Chương VII: Đánh giá hoặc phản ứng (từ Điều 21 đến Điều 25); Chương VIII: Nhân viên, tổ chức và thẩm quyền thực hiện hoạt động (từ Điều 26 đến Điều 30); Chương IX: Hiệu lực thi hành (từ Điều 31 đến Điều 34).