Tìm hiểu pháp luật về Ombudsman của Bồ Đào Nha 09/10/2017

1. Một số vấn đề chung Bồ Đào Nha là một trong những quốc gia Châu âu có luật riêng điều chỉnh về Ombudsman (cơ quan của Quốc hội có chức năng thanh tra, giám sát để bảo vệ các quyền con người). Năm 1991, Nghị viện Bồ Đào Nha đã ...

Tìm hiểu về thiệt hại được bồi thường theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 27/09/2017

1. Khái niệm thiệt hại được bồi thường Dưới góc độ ngôn ngữ học, theo Đại từ điển tiếng Việt, thiệt hại được hiểu là “mất mát, hư hỏng nặng nề về người và của” . Theo Từ điển giải thích thuật ngữ luật học của Trường Đại học Luật Hà Nội thì thiệt hại là “tổn thất về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, tài sản của cá nhân, tổ chức được pháp luật bảo vệ” . Dưới góc độ luật thực định, theo quy định tại Điều 361 Bộ luật Dân sự năm 2015 có thể hiểu thiệt hại bao gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần. Trong đó, thiệt hại về chất là tổn thất vật chất thực tế xác định được, bao gồm tổn thất về tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút. Thiệt hại về tinh thần là tổn thất về tinh thần do bị xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín và các lợi ích nhân thân khác của một chủ thể. Như vậy, hiểu một cách chung nhất thì “thiệt hại có thể hiểu là sự không nguyên vẹn như trạng thái ban đầu của sự vật sau khi chịu sự tác động bên ngoài” . Cụ thể, thiệt hại bao gồm: thiệt hại về chật chất và thiệt hại về tinh thần. Thiệt hại về tinh thần bao gồm: tổn thất về danh dự, uy tín, nhân phẩm hoặc suy sụp về tâm lý, tình cảm của cá nhân và thiệt hại về vật chất bao gồm: tài sản bị mất, hủy hoại, bị hư hỏng; chi phí phải bỏ ra để khắc phục, ngăn chặn thiệt hại cùng những hoa lợi, lợi tức không thu được mà đáng ra thu được.

Tìm hiểu pháp luật về Ombudsman của Slovenia 15/09/2017

1. Một số vấn đề chung Slovenia là một trong những quốc gia Châu âu có luật riêng điều chỉnh về Ombudsman (cơ quan của Quốc hội có chức năng thanh tra, giám sát để bảo vệ các quyền con người). Năm 1993, Nghị viện Cộng hòa Slovenia đã thông qua Luật về Ombudsman, có hiệu lực vào ngày thứ 15 sau khi được công bố trên Công báo nước Cộng hòa Slovenia. Luật này có hiệu lực Luật về Ombudsman của Slovenia có 8 Chương, bao gồm: Chương 1, Quy định chung (từ Điều 1 đến Điều 10); Chương 2, Bầu cử và vị trí của Trưởng Ombudsman và nhiệm vụ của Trưởng Ombudsman (từ Điều 11 đến Điều 22); Chương 3, Thẩm quyền của Trưởng Ombudsman (từ Điều 23 đến Điều 25); Chương 4, Thủ tục (từ Điều 26 đến Điều 46); Chương 5, Quyền của Trưởng Ombudsman (từ Điều 47 đến Điều 50), Chương 6, Cơ quan Ombudsman (từ Điều 51 đến Điều 55), Chương 7, Quy định về phạt (Điều 56) và Chương 8, Điều khoản chuyển tiếp và điều khoản cuối cùng (từ Điều 57 đến Điều 59).

Tìm hiểu pháp luật về Ombudsman của Vương quốc Thái Lan 14/09/2017

1. Một số vấn đề chung Thái Lan là một trong những quốc gia Châu á có luật riêng điều chỉnh về Ombudsman (cơ quan của Quốc hội có chức năng thanh tra, giám sát để bảo vệ các quyền con người). Trên cơ sở quy định tại Điều 29, 31, 33, 35, 36, 45, 56, 59 và 62 của Hiến pháp Vương quốc Thái Lan, ngày 10 tháng 6 năm B.E 2552 (tức năm 2009 theo Dương lịch), Nghị viện Hoàng gia Thái Lan đã thông qua Luật về Ombudsman. Luật về Ombudsman của Thái Lan có 51 điều và 7 Chương, bao gồm: - Một số vấn đề chung (từ Điều 1 đến Điều 5); - Chương I: Trưởng Thanh tra Ombudsman (từ Điều 6 đến Điều 22); - Chương II: Yêu cầu, khiếu nại và điều tra (từ Điều 23 đến Điều 34); - Chương III: Điều tra đối với các cơ quan hiến định và các cơ quan tiến hành tố tụng (Điều 35); - Chương IV: Đạo đức của những người có vị trí chính trị và của công chức nhà nước (từ Điều 36 đến Điều 39); - Chương V: Giám sát, đánh giá và khuyến nghị về việc thi hành Hiến pháp (từ Điều 40 đến Điều 42); - Chương VI: Báo cáo hàng năm (Điều 43 và 44); - Chương VII: Hình phạt (từ Điều 45 đến Điều 47); - Các điều khoản chuyển tiếp (từ Điều 48 đến Điều 51).

Phục hồi danh dự cho người bị thiệt hại theo quy định của Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 18/08/2017

Quyền được phục hồi danh dự là một quyền cơ bản của công dân. Ngay từ Hiến pháp năm 1992 đã quy định “Người bị bắt, bị giam giữ, bị truy tố, xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất và phục hồi danh dự. Người làm trái pháp luật trong việc bắt, giam giữ, truy tố, xét xử gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý nghiêm minh” (Điều 72). Quyền phục hồi danh dự của công dân tiếp tục được Hiến pháp năm 2013 quy định tại Điều 30 (Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự theo quy định của pháp luật) và Điều 31 (Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự. Người vi phạm pháp luật trong việc bắt, giam, giữ, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý theo pháp luật). Để cụ thể hóa những quy định của Hiến pháp, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 đã quy định về phục hồi danh dự cho người bị thiệt hại. Tuy nhiên, đối tượng được phục hồi danh dự còn hẹp, trình tự, thủ tục phục hồi danh dự chưa được quy định cụ thể, rõ ràng dẫn đến thực tiễn trong thời gian vừa qua, việc tổ chức xin lỗi, cải chính công khai còn qua loa, chiếu lệ, mang tính hình thức, gây bức xúc cho người bị thiệt hại và dư luận xã hội. Để khắc phục tình trạng trên, Luật TNBTCNN được Quốc hội thông qua ngày 20/6/2017 đã sửa đổi, bổ sung nhiều quy định liên quan đến việc phục hồi danh dự cho người bị thiệt hại nhằm bảo đảm tốt hơn quyền của người bị thiệt hại. Trong phạm vi bài viết này, tác giả tập trung phân tích một số điểm mới trong các quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 và đưa ra một số kiến nghị nhằm đưa các quy định này vào thực tiễn cuộc sống.

Một số vấn đề về trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ gây thiệt hại theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 14/08/2017

Ngày 20/6/2017, Quốc hội đã thông qua dự thảo Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (TNBTCNN) sửa đổi - Luật số 10/2017/QH14) với 454/458 đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành, chiếm 93,27% tổng số đại biểu Quốc hội. Việc sửa đổi lần này của Luật TNBTCNN ngoài mục tiêu tiếp tục tăng cường bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức bị thiệt hại mà còn nhằm đáp ứng yêu cầu nâng cao ý thức, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức trong thực thi công vụ. Theo đó, quy định về trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ gây thiệt hại đã được sửa đổi toàn diện với nhiều điểm mới như: thống nhất người thi hành công vụ gây thiệt hại có lỗi trong các lĩnh vực đều bị xem xét trách nhiệm hoàn trả, mức hoàn trả đối với nhiều người thi hành công vụ cùng gây thiệt hại, giảm mức hoàn trả, xử lý tiền hoàn trả trong trường hợp văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường không còn là căn cứ yêu cầu bồi thường.v.v…. Mục đích của việc cụ thể hóa trách nhiệm cá nhân gây thiệt hại của người thi hành công vụ tiếp tục được đặt ra và tiến hành sửa đổi với nhằm tăng cường tính răn đe và bảo đảm người thi hành công vụ không lợi dụng việc thi hành quyền lực công của Nhà nước mà tiếp tục thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, một số vấn đề vẫn chưa được Luật TNBTCNN năm 2017 điều chỉnh như: thành phần cụ thể tham gia Hội đồng xem xét trách nhiệm hoàn trả, trường hợp cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ không tham gia Hội đồng và không ban hành quyết định hoàn trả khi vụ việc có nhiều người thi hành công vụ cùng gây thiệt hại thuộc nhiều cơ quan trong hoạt động tố tụng hình sự, thủ tục trả lại tiền hoàn trả trong trường hợp văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường không còn là căn cứ yêu cầu bồi thường.v.v…. Do vậy, để phục vụ cho việc xây dựng Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật TNBTCNN, đồng thời giúp cho việc thực thi các quy định của Luật triển khai thi hành trên thực tiễn được thực hiện có hiệu quả, trong phạm vi bài viết này tác giả xin đưa ra một số phân tích, bình luận tập trung vào một số nội dung quan trọng trong quy định về trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ gây thiệt hại.

Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về công tác bồi thường theo Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 02/08/2017

Ngày 20/6/2017, tại kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa XIV đã thông qua Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (sau đây viết tắt là Luật TNBTCNN năm 2017). Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2018. Luật TNBTCNN năm 2017 được ban hành có nhiều điểm mới về thời quyền yêu cầu bồi thường, thời hiệu yêu cầu bồi thường, nguyên tắc bồi thường của Nhà nước, văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường, phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, thiệt hại được bồi thường, cơ quan giải quyết bồi thường, trình tự, thủ tục giải quyết bồi thường, trách nhiệm hoàn trả, kinh phí bồi thường, quản lý nhà nước về công tác bồi thường. Trong phạm vi bài viết này, tác giả tập trung giới thiệu những điểm mới trong các quy định của Luật về quản lý nhà nước về công tác bồi thường và đưa ra giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về công tác bồi thường trong thời gian tới.

Những điểm mới của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 18/07/2017

Ngày 18/6/2009, tại Kỳ họp thứ 05, Quốc hội khoá XII đã thông qua Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (Luật TNBTCNN), có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2010. Đây là lần đầu tiên trách nhiệm bồi thường của Nhà nước được quy định trong một đạo luật. Luật TNBTCNN năm 2009 đã thể chế hóa các chủ trương, quan điểm của Đảng được đề ra tại Nghị quyết của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X Đảng Cộng sản Việt Nam, cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 1992 cũng như phù hợp, đồng bộ với các đạo luật cơ bản vào thời điểm đó như Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2005, Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 1999, Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2003, Luật khiếu nại, tố cáo năm 1998, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1996...

Tìm hiểu pháp luật về Ombudsman của Macedonia 15/05/2017

1. Một số vấn đề chung Macedonia là quốc gia thuộc khu vực nam Châu âu có luật riêng điều chỉnh về Ombudsman (cơ quan của Quốc hội có chức năng thanh tra, giám sát để bảo vệ các quyền con người). Năm 1997, Quốc hội Cộng hòa Macedonia đã từng ban hành Luật về Ombudsman và đến năm 2003, Luật về Ombudsman mới đã thay thế cho Luật năm 1997 và Luật về Ombudsman của Macedonia đã được sửa đổi một lần vào năm 2009.

Tìm hiểu pháp luật về Ombudsman của Latvia 15/05/2017

1. Một số vấn đề chung Latvia là một trong những quốc gia Châu âu vùng Baltic có luật riêng điều chỉnh về Ombudsman (cơ quan của Quốc hội có chức năng thanh tra, giám sát để bảo vệ các quyền con người). Ngày 6/4/2006, Nghị viện Cộng hòa Latvia đã thông qua Luật về Ombudsman, Luật này có hiệu lực vào ngày 1/1/2007. Đến nay, Luật này đã được sửa đổi, bổ sung 7 lần (Luật sửa đổi ngày 15/5/2008 có hiệu lực ngày 11/6/2008, Luật sửa đổi ngày 12/12/2008 có hiệu lực ngày 1/1/2009, Luật sửa đổi ngày 12/6/2009 có hiệu lực ngày 1/7/2009, Luật sửa đổi ngày 1/12/2009 có hiệu lực ngày 1/1/2010, Luật sửa đổi ngày 25/11/2010 có hiệu lực ngày 30/11/2010, Luật sửa đổi ngày 16/6/2011 có hiệu lực ngày 7/7/2011 và Luật sửa đổi ngày 25/3/2014 có hiệu lực ngày 1/1/2015).